Căn Cứ Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự - Luật Apollo

  1. 1. Các căn cứ không khởi tố vụ án hình sự
    1. 1. Không có sự việc phạm tội
    2. 2. Hành vi không cấu thành tội phạm
    3. 3. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự
    4. 4. Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật
    5. 5. Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
    6. 6. Tội phạm được đại xá
    7. 7. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác 
    8. 8. Tội phạm quy định tại khoản 1 của các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 226 của Bộ luật Hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.
  2. 2. Trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền khi có căn cứ không khởi tố vụ án hình sự

Quyết định không khởi tố vụ án hình sự là văn bản pháp lý xác định nguồn tin về tội phạm không có căn cứ khởi tố vụ án hình sự. Vậy, những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự là gì? Khi có những căn cứ này, cơ quan có thẩm quyền sẽ giải quyết ra sao?

Dưới đây là những kiến thức pháp luật cần biết về Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự, được Luật Apollo tổng hợp và hướng dẫn một cách chi tiết nhất!

Căn cứ pháp lý:

Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015

Các căn cứ không khởi tố vụ án hình sự

Điều 157 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các căn cứ sau:

Không có sự việc phạm tội

Mục đích của khởi tố vụ án hình sự là nhằm điều tra làm rõ tội phạm và người thực hiện hiện hành vi phạm tội để xử lý theo quy định của pháp luật. Trường hợp không có sự việc phạm tội thì việc khởi tố vụ án hình sự cũng không mang lại ý nghĩa gì. Do vậy, khi xác định không có sự việc phạm tội thì không được khởi tố vụ án hình sự.

Có hai trường hợp xác định không có sự việc phạm tội:

  • Thứ nhất, có sự việc xảy ra trong thực tế nhưng sự việc đó không có dấu hiệu của tội phạm.
  • Thứ hai, không có sự việc nào xảy ra trong thực tế mà nguồn tin báo chỉ là giả tạo hoặc vu khống.

Hành vi không cấu thành tội phạm

Một hành vi chỉ bị coi là tội phạm khi có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự (gồm: mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể). Nếu hành vi không có hoặc có nhưng không đầy đủ các yếu tố cấu thành của một  tội phạm cụ thể thì hành vi đó không phải là tội phạm và người đã thực hiện hành vi đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015 thì một hình vi về hình thức tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác. Ngoài ra, một hành vi đã có những tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội như sự kiện bất ngờ, phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội… thì không bị khởi tố về hình sự.

Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Đến độ tuổi nhất định thì con người mới có khả năng nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi và điều khiển được hành vi của mình. Vì thế, chỉ đến độ tuổi đó, con người mới phải chịu trách nhiệm hình sự về những hành vi nguy hiểm cho xã hội do mình gây ra.

Theo quy định tại điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017), người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật Hình sự có quy định khác. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trong, đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134,141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật Hình sự 2015.

Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự, khi tòa án đã ra bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án đối với một sự việc nào đó thì có nghĩa là sự việc đó đã được giải quyết và ai có quyền khởi tố lại sự việc đã được giải quyết. Vì thế, khi người có hành vi phạm tội mà tòa án đã ra bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án đã có hiệu lực pháp luật thì cơ quan có thẩm quyền không được khởi tố vụ án đó nữa.

Tuy nhiên, nếu có căn cứ xác định bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án đã có hiệu lực pháp luật của tòa án không đúng thì người có thẩm quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật Hình sự quy định được tính kể từ ngày xảy ra tội phạm mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015 quy định chi tiết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với từng loại tội cụ thể.

Ngoài ra, Bộ luật Hình sự cũng quy định không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia; các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; tội tham ô tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 3, 4 điều 354 Bộ luật Hình sự 2015. Do vậy, không áp dụng căn cứ không khởi tố vụ án hình sự vì “Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự” với các tội nêu trên. 

Tội phạm được đại xá

Đại xá là một biện pháp khoan hồng của Nhà nước nhằm tha tội hoàn toàn và triệt để cho người phạm tội trong một số tội phạm nhất định vào những dịp diễn ra sự kiện chính trị lớn của đất nước. Văn bản đại xá có hiệu lực đối với những hành vi phạm tội được nêu trong văn bản và đã xảy ra trước khi ban hành văn bản. Do vậy, đối với những tội phạm được đại xá thì cơ quan có thẩm quyền không được khởi tố vụ án hình sự.

Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác 

Khi một hoặc nhiều người cùng thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội phạm một hoặc một số tội được quy định trong Bộ luật Hình sự, nhưng sau khi thực hiện hành vi phạm tội vì một lý do nào đó mà họ đã chết thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ không được đặt ra. Vì nếu có khởi tố vụ án để tiến hành điều tra, xử lý đối với người phạm tội cũng không đạt được mục đích và nhiệm vụ của tố tụng hình sự.

Vì vậy, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định khi người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết thì cơ quan có thẩm quyền không khởi tổ vụ án hình sự. Tuy nhiên, trường hợp xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực của tòa án nhưng bị kháng nghị vì phát hiện tình tiết mới có thể làm thay đổi căn bản nội dung của bản án hoặc quyết định đó (trường hợp tái thẩm) thì cơ quan có thẩm quyền được khởi tố vụ án, mặc dù người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết.

Tội phạm quy định tại khoản 1 của các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 226 của Bộ luật Hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.

Đây là những trường hợp tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng do không có yêu cầu khởi tố của bị hại quy định tại điều 155 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 nên cơ quan có thẩm quyền không được khởi tố vụ án hình sự.

Trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền khi có căn cứ không khởi tố vụ án hình sự

Căn cứ theo điều 158 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, khi có một trong các căn cứ không khởi tố vụ án hình sự thì người có thẩm quyền phải ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Nếu đã khởi tố thì phải ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự và thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố biết. Nếu xét thấy vụ việc cần phải được xử lý bằng biện pháp khác thì chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Trường hợp có khiếu nại về quyết định không khởi tố vụ án thì việc giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định tại Chương XXXIII của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

Sau khi ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, trong thời hạn 24 giờ, cơ quan ra quyết định phải gửi quyết định và các tài liệu liên quan đến viện kiểm sát cùng cấp hoặc viện kiểm sát có thẩm quyền để kiểm sát việc ra quyết định. Nếu thấy việc ra quyết định không có căn cứ thì viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và ra quyết định khởi tố vụ án để tiến hành điều tra.

► Việc quyết định khởi tố hay quyết định không khởi tố vụ án hình sự rất quan trọng, ảnh hưởng lớn đến cả quá trình giải quyết vụ án hình sự. Do vậy, khi ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền cần dựa vào các căn cứ pháp luật quy định để đưa ra quyết định đúng đắn, bảo vệ quyền lợi của những người có liên quan.

Nếu bạn có thắc mắc về những Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự, hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ giải đáp kịp thời cho bạn, hoặc liên hệ ngay tới tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi để được tư vấn miễn phí:

Công ty Luật TNHH Apollo với đội ngũ Luật sư và Chuyên viên tư vấn giỏi, tâm huyết, có nhiều năm kinh nghiệm trong ngành, chúng tôi luôn coi việc bảo vệ quyền lợi cho khách hàng là sứ mệnh hành nghề Luật sư của của mình, đồng hành với thân chủ giải quyết triệt để mọi rủi ro pháp lý.

Apollo cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật chuyên sâu, toàn diện cho cá nhân và doanh nghiệp, sự hài lòng của quý khách là niềm hân hạnh của Công ty chúng tôi!

Apollo

 Sáng tạo giá trị - Kiến tạo Bình an

Để lại Bình luận

Email của bạn sẽ được giữ kín, các thông tin cần điền sẽ đánh dấu *

Đánh giá*

Họ tên *

Email *

Bài viết liên quan

Chọn bài viết hiển thị
Quy định của pháp luật về Tội hiếp dâm

luatapollo

Thứ Bảy, 10 Tháng Chín 2022

Quy định của pháp luật về Tội hiếp dâm
Quy định của pháp luật về Tội cưỡng dâm

luatapollo

Thứ Bảy, 10 Tháng Chín 2022

Quy định của pháp luật về Tội cưỡng dâm
Quy định của pháp luật về Tội trộm cắp tài sản

luatapollo

Thứ Bảy, 10 Tháng Chín 2022

Quy định của pháp luật về Tội trộm cắp tài sản
Quy định về Khởi tố vụ án hình sự

luatapollo

Thứ Bảy, 10 Tháng Chín 2022

Quy định về Khởi tố vụ án hình sự
Tiêu đề
Chỉnh sửa ảnh liên kết